Trong dự án do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, nông dân có sáng chế mang tính thực tiễn cao có thể vay đến 500.000 USD để phát triển các sản phẩm mới.

Dự án VIIP do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ với kinh phí hơn 55,6 triệu USD, được thực hiện trong thời gian 5 năm từ 2014 đến 2018. Theo bà Ngân, dự án rất chú trọng đến khả năng ứng dụng rộng rãi của ý tưởng mới, công nghệ mới. Mọi doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân và cả nông dân nếu có ý tưởng sáng tạo, muốn nghiên cứu sáng chế đều có thể nộp hồ sơ đăng ký tham gia để nhận được hỗ trợ tài chính. Những hồ sơ nào chứng minh được tính thiết thực của sáng chế sẽ được phê duyệt.



Bà Ngân cho hay, nông nghiệp và thủy sản là trọng tâm của dự án hướng đến. Đổi mới sáng tạo công nghệ là yếu tố tiên quyết để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và thủy sản, nâng cao đời sống của người dân. Dự án sẽ ưu tiên hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ nhằm làm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, nâng cao chất lượng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho các loại nông và thủy sản.

Các sáng chế nhiều triển vọng của nông dân 

Trong số hàng trăm ý tưởng nghiên cứu, những thành công trong sáng chế được gửi đến VIIP có một số sáng chế tiêu biểu của các nông dân, hứa hẹn mang lại giải pháp hiệu quả cho ngành chế biến nông thủy sản thời gian tới.

Anh Nguyễn Kim Chính ở Phù Cát, Bình Định, có sáng chế máy tuốt lạc. Máy tuốt này kết cấu đơn giản, gồm 2 trục lô bằng sắt có các gân xoắn, có thể điều chỉnh khoảng cách hai trục này tùy theo kích cỡ quả lạc. Máy khi hoạt động không bị sót hoặc vỡ hạt do số lượng và độ xoắn của gân được bố trí phù hợp. Máy có thể tuốt được 200 kg quả lạc/giờ, tương đương 5 lao động bóc thủ công. Giá thành ở mức 6 triệu đồng/chiếc. Hiện anh Chính vẫn đang cải tiến các sản phẩm khác nhằm thuận lợi hóa công việc của nhà nông.

Anh Nguyễn Huấn, công tác tại Phòng kinh tế thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp có sáng chế hệ thống tách chất thải, chất cặn bã trong ao nuôi cá tra công nghiệp. Anh Huấn nghiên cứu và áp dụng nguyên tắc "môi trường tĩnh", tạo một hố miệng hình chữ nhật, hình vuông hoặc tròn, dạng hình phễu có đáy nhỏ, sâu 1,5m ở giữa ao. Hố này chiếm 5- 8% diện tích ao nuôi, trên bề mặt dùng lưới ngăn không để cá rơi vào. Nước được cấp theo dòng xoáy theo thiết kế ống dẫn nước quanh ao, chất thải được lắng tụ ở giữa ao nhờ bể chứa giữa đáy và được dẫn ra ngoài qua đường ống dẫn ở giữa ao. Chất thải trong quá trình nuôi cá tra, các chất bùn, phù sa qua quá trình bơm nước từ bên ngoài vào sẽ được lắng tụ ở hố trung tâm, giữa đáy ao nhờ lực hướng tâm của dòng chảy. Phương pháp này tiết kiệm lưu lượng nước cấp từ 1/3 đến 2/3 so với ao nuôi truyền thống, chất lượng nước ổn định, không bị cặn bã tích tụ trong ao lâu ngày. Nhờ vậy cá tăng trưởng nhanh, ít bệnh, ít tốn thuốc trị, tạo môi trường sạch.

                                                                                                                                              Khánh Lynh

Việc sử dụng quá nhiều và bừa bãi hóa chất nông nghiệp đã dẫn đến tác động tiêu cực và thiệt hại không thể khắc phục đối với môi trường. Sự phụ thuộc quá nhiều vào thuốc trừ sâu hóa học trong quản lý sâu bệnh đã làm ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường.



Trong bối cảnh này, các chế phẩm sinh học như phân bón sinh học và thuốc trừ sâu sinh học được coi là lựa chọn khả thi. Đến nay, các nhà khoa học trên toàn cầu đã và đang nghiên cứu tìm ra các chế phẩm hiệu quả hơn và phù hợp với chiến lược để nâng cao năng suất cây trồng.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh, thuốc trừ sâu, phân bón hóa học… không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất còn đang gây ra những bất ổn trong sản xuất nông nghiệp. Do đó, việc tìm kiếm thay thế cho các sản phẩm này là cần thiết cho nông nghiệp bền vững. Đồng thời, các chế phẩm sinh học, thuốc trừ sâu sinh học nhằm thúc đẩy sinh trưởng thực vật, giúp giảm thiểu rủi ro trong quản lý sản xuất nông nghiệp.

Ở các nước châu Á, công nghệ này đang ở giai đoạn phát triển và sử dụng khác nhau. Các nhà khoa học cũng cho rằng, các ứng dụng và thương mại hóa công nghệ sinh học cho nông nghiệp bền vững là một thị trường đang phát triển và cần thiết trên toàn thế giới.

                                                                                                                                   VOV-Trung tâm Tin


Trước nhiều thông tin măng chua tẩm hóa chất độc hại, người tiêu dùng đang cảm thấy hoang mang. Vậy những hóa chất độc hại đó là gì?

Măng tươi có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon, tuy nhiên, trong măng có một chất độc gọi là glucozit, có khả năng biến đổi thành a xít cyanhydric là thủ phạm gây ra ngộ độc, nôn mửa, vì vậy muốn đảm bảo an toàn khi sử dụng măng, cần phải biết cách khử chất độc này.

Theo nguyên tắc, măng tươi sau khi thu hoạch sẽ được luộc kỹ qua nhiều lần nước, lửa phải đều và ngâm khoảng 2 ngày thì mới mềm, ngon, ngọt và hết đắng. Muốn làm măng chua trắng không bị thâm đen sẽ ngâm vào nước trước khi đưa vào sử dụng.
        Măng khô để tạo màu sẽ cho thêm diêm sinh

Tuy nhiên, một số xưởng sản xuất làm măng chua bán với số lượng lớn và muốn làm măng trắng, đẹp mắt, họ đã dùng chất tẩy trắng. Chất làm trắng Kali sunfit nếu dùng vừa phải thì không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng dùng sai liều quy định có thể gây viêm da, mắt, miệng, phá hoại dạ dày, đặc biệt là hệ tiêu hóa, phá hủy gan, thận...

Làm thế nào để giảm độc tố trong măng?

Acid xyanhydric hoà tan trong nước và dễ bị bay hơi khi đun nóng, cho nên chị em nội trợ đã có kinh nghiệm luộc măng tươi 1-2 lần trước khi chế biến.
Luộc măng trước khi chế biến

Cách xử lý như sau:

- Trước khi chế biến, thái miếng và luộc măng trong nước sôi. Luộc măng xong đổ nước đó đi và chế biến bằng các món ưa thích.

- Một số người dùng nước gạo để ngâm măng cũng giúp giảm độc tố.

Để làm măng không còn vị đắng, áp dụng một số cách sau lấy một vài trái ớt (đã gỡ hết hạt) cho vào nồi luộc cùng với măng và nước vo gạo. Khi thấy măng mềm thì tắt lửa. Chờ măng nguội, vớt ra, lột vỏ, xả lại vài lần bằng nước sạch.

Hoặc để loại bỏ bớt vị đắng của măng, có thể đem măng ngâm trong nước vôi, sau đó mang đi luộc 2 - 3 lần nước. Trong khi luộc nên mở nắp nồi cho chất độc bay hơi.

Nhận biết măng an toàn và măng ngâm hóa chất: 

Có 1 số cách lưu ý phân biệt măng an toàn và măng ngâm hóa chất:

- Măng có màu trắng nhợt nhạt hoặc vàng sẫm do được ngâm với hóa chất. Khi ăn có vị ngọt, giòn hơn măng tự nhiên.

- Măng tươi tự nhiên thường có màu vàng tươi nhạt, có thể bẻ gãy được, măng còn lưu giữ mùi thơm đặc trưng.

Trong môi trường làm việc với hóa chất, bên cạnh những tác động gây tổn thương đến sức khỏe người lao động khi sử dụng không đúng cách, tính chất vật lý của hóa chất luôn rình rập các nguy cơ hủy hoại trang thiết bị và tồi tệ hơn là hủy hoại cả môi trường sống.

Những tác động do tính chất vật lý của hóa chất tại nơi làm việc có thể gây tổn thương sức khỏe cho người lao động nếu không kiểm soát đúng cách. Ví dụ: tốc độ bay hơi của hoá chất có thể quyết định nguy cơ và cường độ tiếp xúc. Gây ra tai nạn lao động và nhiều loại bệnh nghề nghiệp hiểm nghèo như bệnh ung thư gây ảnh hưởng đến sự phát triển thai nhi, gây biến đổi gen,...

Vậy nên, để thực hiện kiểm soát hóa chất đúng cách yêu cầu phải trang bị kiến thức về hóa chất. Đồng thời cần hiểu rõ các tác động mà chúng gây ra, cũng như lường trước hậu quả và chuẩn bị biện pháp xử lí kịp thời khi xảy ra sự cố do không quản lí và lưu trữ hóa chất đúng cách

Tính chất vật lý của hoá chất thông thường liên quan đến bản chất của hoá chất nhưng trong nhiều trường hợp có các yếu tố khác lại động đến lại gây ra tai hoạ nghiêm trọng. Chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn gây cháy nổ. Do đó một số chất lỏng có độ bén lửa cao cần thao tác và lưu giữ cách xa các máy móc- thiết bị đang hoạt động, nguồn điện, lửa hay những nơi dễ bén lửa nhằm tránh gây ra hỏa hoạn dẫn đến thiệt hại lớn về người và của.


Hóa chất cũng có thể gây ô nhiễm môi trường và phá hủy môi trường sinh thái. Biện pháp tốt nhất trong việc ngăn chặn các rủi ro phát sinh từ việc sử dụng các hóa chất nguy hiểm là loại trừ khỏi môi trường làm việc những hóa chất đó. Tuy nhiên, điều này không phải luôn thực hiện được. Vì vậy, điều quan trọng tiếp theo là cách ly nguồn phát sinh các hóa chất nguy hiểm, hoặc tăng thêm các thiết bị thông gió và dùng phương tiện bảo vệ cá nhân. Đầu tiên, cần xác định được các hóa chất nguy hiểm và đánh giá đúng mức độ độc hại, nguy hiểm của chúng, kiểm soát chặt chẽ việc thống kê, các quá trình vận chuyển, chuyển rót và cất giữ hóa chất, các hóa chất thực tế đang sử dụng và cả chất thải của chúng. Đặc biệt, không thải hóa chất bừa bãi ra môi trường, có biện pháp xử lý hiệu quả ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực của chúng đến môi trường xung quanh.

Sản phẩm của nền công nghiệp đem lại những lợi ích trong cuộc sống hiện đại. Các dược phẩm mang lại sức khoẻ, các trang thiết bị gia dụng tiết kiệm sức lao động. Ô tô, tàu thuỷ, sơn, chất tẩy rửa, sợ tổng hợp, bao bì, nhựa tổng hợp, máy tính cá nhân … một danh sách vô tận của các hàng hoá hữu ích được sản xuất ra.

Nhưng song song với mặt tốt của hàng hoá là mặt trái của nó. Sản xuất công nghiệp phát sinh hàng trăm triệu tấn chất thải mỗi năm. Các chất thải này chứa các phụ phẩm hoá học, các yếu tố có tính nguy hại cho sức khoẻ con người và môi trường vì chúng có độc tính, độc hại sinh thái, dễ cháy nổ, ăn mòn hoặc gây nhiễm trùng. Chúng được phát tán từ ống khói, ống xả, hay được vứt bỏ ra các bãi rác hoặc chứa trong thùng phi rò rỉ, từ rác thải hạt nhân, rò rỉ phóng xạ. Đôi khi chất thải được vận chuyển trái phép tới một nơi khác, đưa các mối nguy hiểm đáng sợ tới các cộng đồng vốn không biết gì về chúng.

Vậy đâu là giải pháp để giảm thiểu chất thải nguy hại? 
Dưới đây là những cách xử lý giảm thải chất thải nguy hại mà Hoàng Cương Composite chia sẻ cùng các bạn:

- Thu gom và lưu giữ chất thải nguy hại:
        +Lưu giữ chất thải nguy hại tại các cơ sở công nghiệp: Việc lưu giữ chất thải nguy hại trong các cơ sở công nghiệp phải được áp dụng ngay từ khâu đầu phát sinh ra rác thải. Tại khu vực xí nghiệp công nghiệp phải bố trí khu lưu giữ chất thải nguy hại riêng biệt, chất thải nguy hại phải được lưu giữ an toàn, không gây ra những hủy hoại môi trường trong khi chờ được thu hồi để tái chế hay xử lý.
Các thùng lưu chứa chất thải thường phải được hàn kín và có dán nhãn mác. Việc rò rỉ các kim loại nặng từ việc lưu giữ lâu dài các xỉ kim loại đã tạo ra một số tác động đối với các lưu vực xung quanh. Xỉ kim loại được sử dụng như là nguyên liệu để làm đường có thể dẫn đến việc rò rỉ các kim loại nặng, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm.
         +Lưu giữ chất thải nguy hại tại các cơ sở y tế: Thu gom chất thải bệnh viện là mấu chốt trong toàn bộ quá trình quản lý, bởi vì ở giai đoạn này, chất thải được chia thành nhiều loại khác nhau và việc phân loại chất thải không đúng có thể dẫn tới nhiều vấn đề nguy hại sau này. Những chất thải sắc nhọn cần được đựng trong các túi đựng riêng, không chọc thủng được để tránh phát tán mầm bệnh nguy hiểm. Các chất thải nguy hại phải được lưu giữ trong phòng lạnh để tránh sự phân huỷ trong quá trình lưu giữ.

- Vận chuyển chất thải nguy hại: Khi vận chuyển các chất thải nguy hại cần phải tuân thủ các qui định của Nhà nước về vận chuyển chất thải nguy hại.

- Xử lý và tiêu huỷ chất thải nguy hại: Sự phát sinh chất thải là một kết quả không thể tránh khỏi của sản xuất công nghiệp, bởi vì không có một qui trình sản xuất nào đạt hiệu suất 100% và vì thế vẫn rất cần phải có các giải pháp kỹ thuật để xử lý chất thải nguy hại.

Nguyên tắc chung để xử lý chất thải nguy hại:

- Giảm lượng và độ độc của chất thải nguy hại tại nguồn thải.
- Xử lý chất thải:
+ Tách các chất thải nguy hại;
+ Biến đổi hóa tính, sinh học nhằm phá huỷ các chất thải nguy hại hoặc biến thành các chất ít nguy hại hơn hoặc không gây nguy hại;
+ Thải bỏ các chất thải nguy hại theo đúng kỹ thuật để không gây tác hại tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng.


bồn xử lý nước thải FRP

Sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN) trên khắp cả nước trong những năm gần đây đã góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, việc hình thành và phát triển các KCN còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp từ các KCN. Nguồn nước ô nhiễm có tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe con người, tác hại của nó tỉ lệ với người mắc bệnh cấp và mãn tính như tiêu chảy, ưng thư da.
Bồn xử lý nước thải là một giải pháp tiết kiệm và hiệu quả, doanh nghiệp có thể xử lý nước thải hàng ngày để hạn chế bớt chất độc hại bảo vệ sức khỏe cho môi trường xung quanh doanh nghiệp cũng như môi trường chung mà không phải tốn quá nhiều thời gian, tiền bạc và công sức.
Các chất chống ăn mòn của bồn chứa FRP như nhựa và sợi thủy tinh làm cho nó đặc biệt phù hợp để chịu được những thách thức lưu trữ đi kèm với một loạt các hóa chất.
Để phát huy tính hiệu quả mà nó đem lại và cung cấp cho quý khách hàng những giải pháp lưu trữ tốt nhất, Hoàng Cương sản xuất một loạt bồn xử lý nước thải bằng vật liệu composite.

bồn xử lý nước thải FRP

Đặc điểm ưu việt của bồn xử lý nước thải FRP :
- Tỷ số (tính năng cơ lý/giá thành) và tỷ số (tính năng cơ lý/khối lượng) cao hơn sắt thép rất nhiều.
- Rẻ hơn thép, không rỉ.
- Khả năng kháng ăn mòn cao đối với  các loại hóa chất, dung môi có tính ăn mòn.
- Nhẹ hơn nhôm và hợp kim của nhôm.
- Không tốn kém trong bảo quản, chống ăn mòn.
- Phương pháp gia công, chế tạo đơn giản và đa dạng.

- Chi phí đầu tư thấp.